Bạn đang xem
Trang chủ > CÂU HỎI THƯỜNG GẶP > CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG CỦA TIỂU CẦN THẬN, TIỂU QUẢN THẬN

CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG CỦA TIỂU CẦN THẬN, TIỂU QUẢN THẬN

CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG CỦA TIỂU CẦN THẬN, TIỂU QUẢN THẬN
4.5 (90%) 2 votes

Chức năng chủ yếu của thận là tạo nước tiểu, từ đó điều tiết sự cân bằng nội môi của cơ thể. Nhưng việc tạo nước tiểu lại do độ cho qua của tiểu cầu thận, độ hấp thu lại của tiểu quản thận và nội tiết quyết định, bởi vậy những kiểm tra có liên quan với chức năng của thận cũng xoay xung quanh chức năng của tiểu cầu thận và tiểu quản thận:

Chức năng cho qua của tiểu cầu thận: Trong lâm sàng người ta thường dùng giá trị đo được về tỉ lệ loại trừ các loại vật chất để phản ánh chức năng của tiểu cầu thận. Khi máu chảy qua thận, một chất nào đó trong huyết tương sau khi qua xử lí lọc của tiểu cầu thận và hấp thu lại của tiểu quản thận, bị bài thải ra ngoài. Người ta gọi lượng chất đó trong huyết tương bị thận bài thải ra ngoài là tỉ lệ loại trừ.

CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG CỦA TIỂU CẦN THẬN, TIỂU QUẢN THẬN

Phương pháp tính toán như sau:

Tỉ lệ ngoại trừ (ml/phút)= (Nồng độ chất đó trong nước tiểu(mg/d) x lượng nước tiểu(ml/phút)) / nồng độ chất đó trong huyết tương (mg/dl) Thông thường những chất được chọn để đo định, đại bộ phận có thể đã lọt qua màng lọc của tiểu cầu thận, không bị tiểu quản thận hấp thu trở lại. Như:

a)Đo định tỉ lệ loại trừ đường gluco: Phân tử đường gluco nhỏ nhất, sau khi tiêm vào cơ thể, không bị trao đổi phân giải mà giữ nguyên hình tự do lọt qua màng lọc của tiểu cầu thận, không những không bị tiểu quản thận bài tiết mà cũng không bị nó hấp thu trở lại, bởi vậy tỉ lệ loại trừ đường gluco có thể phản ánh chính xác tỉ lệ lọc của tiểu cầu thận.

b)Người bệnh 3 ngày không ăn thức ăn động vật thì inocin rõ nguồn gốc bên ngoài đều bị bài thải ra ngoài, khi độ inocin trong huyết tương là sản phẩm trao đổi chất của creatin trong cơ thể. Do inocin có phân tử lượng nhỏ nên tuyệt đại bộ phận có thể lọt qua màng lọc của tiểu cầu thận, không bị tiểu quản thận hấp thu trở lại, chỉ có một số ít. bị tiểu quản thận ỏ đầu gần bài tiết, bởi vậy tỉ lệ loại trừ chất này cơ bản có thể phản ánh tỉ lệ cho qua của màng lọc tiểu cầu thận.

Nồng độ inocin trong huyết tương và nồng độ nitơ trong nước tiểu có máu do sự trao đổi phân giải nitơ của cơ thể và năng lực bài tiết của thận quyết định, trong tình trang ăn uống và trao đổi phân giải trong cơ thể tương đối ổn định thì nồng độ trong máu của chúng do năng lực bài tiết của thận quyết định, do đó nồng độ inocin trong máu và nitơ trong nước tiểu có máu phản ánh ở một mức nhất định tình trạng tổn hại chức năng lọc của tiểu cầu thận, nhưng phản ánh tương đối chậm.

Đo định tỉ lệ cho qua của tiểu cầu thận đôi vói một số chất có tính phóng xạ:

Tiêm 1 lần, liều nhỏ chất có tính phóng xạ như – axít iodic, 99Tc (tếchnêti) V. V…, sau đó lấy máu nhiều lần đo định tính phóng xạ của huyết tương, vẽ đồ thị thay đổi nồng độ của nó, xác định diện tích dưới đường biểu diễn, sau đó dùng diện tích đó trừ đi lượng chất có tính phóng xạ trị vào cơ thể, có thể tìm ra được tỉ lê loại trừ chất phóng xạ của tiểu cầu thận.

Đo định protein dạng cầu nhỏ trong huyết thanh:

Protein dạng cầu rất nhỏ P2 là một chất protein có phân tử nhỏ, chủ yếu do tê bào limpha sinh ra, các tế bào ở u bưóu cỏ năng lực hợp thành nó rất mạnh. Do phân tử lượng của nó nhỏ, nên protein dạng cầu nhỏ p2 tuần hoàn trong máu CÓ thể tự do lọt qua màng lọc của tiểu cầu thận, có khoảng 99,9% bị tiểu quản thận ở đầu dưới hấp thu trở lại, chỉ có 0,1% bị bài tiết ra ngoài. Bởi vậy khi tỉ lệ loại trừ của màng lọc của tiểu cầu thận hạ thấp thì lượng protein dạng cầu P2 trong nước tiểu tăng cao. Những cơ thể đã được miễn dịch với một sô” bệnh nào đó và có u ác tính, cũng có thể thấy chất này tăng cao trong nước tiểu.

2. Chức năng của tiểu quản thận:

chức năng của tiểu quản thận tương đối phức tạp, ngoài chức năng hấp thu trở lại và phân tiết, nó còn chức năng axít hóa nước tiểu, ở dưới sẽ trình bày đơn giản cách đo định chức năng hấp thu trỏ lại và phân tiết của tiểu quản thận:

a) Kiểm tra chức năng của tiểu quản thận ở đầu gần:

Sau khi tiêm phenol đỏ vào cơ thể, tuyệt đại bộ phận (94%) do tế bào mặt ngoài trên tiểu quản thận ỏ đầu dưới phân tiết vào nước tiểu, bởi vậy đo định lượng bài tiết phenol đỏ trong nước tiểu (tỉ lệ bài tiết phenol đỏ), có thể dùng làm tiêu chí sơ bộ để phán đoán chức năng bài tiết của tiểu cầu thận. Như đã nói ở trên, tuyệt đại bộ phận protein dạng cầu nhỏ P2 đều bị tiểu quản thận ở đầu dưới hấp thu trở lại, khi chức năng hấp thu trở lại của tiểu cầu thận không tốt thì lượng protein dạng cầu nhỏ P2 trong nước tiểu sẽ tăng cao.

b) Chức năng của tiểu quản đầu xa và của ống tập hợp: 

Trong tình trạng bình thường, khả năng hấp thu trở lại các chất hòa tan và nước của tiểu quản thận đầu gần, căn bản là ổn định, nhưng tiểu quản đầu xa và ông tập hợp có thể căn cứ vào nhu cầu nước và các chất hòa tan của cơ thể mà điều tiết lượng hấp thu trở lại. Do đó nước tiểu loãng hay đặc chủ yếu phản ánh chức năng của tiểu quản đầu xa và ống tập hợp. Trong lâm sàng thường dùng chí nghiệm Liste (khi không dùng thuốc lợi tiểu, ban ngày ăn uống bình thường, sau 8 giờ tối cấm ăn, đo nhiều lần tỉ trọng và lượng nước tiểu) để xác định tỉ số áp lực thẩm thấu của nước tiểu có máu và tỉ lệ loại trừ nước tự do.

Ngoài ra do định lượng hấp thu đường gluco lốn nhất của thận cũng có thể phản ánh chức năng hấp thu trở lại của tiểu quản thận đầu gần, vì đo định lâm sàng tương đối phiền phức, nên nếu tình trạng đường trong máu (đường huyết) và đường trong nước tiểu (đường niệu) không cao thì ý nghĩa đo định không lớn, bởi vậy ít sử dụng. Nguyên lí là: khi đường huyết bình thường thì tiểu quản thận có thể hấp thu toàn bộ số đường lọt qua màng lọc của tiểu cầu thận. Nếu nồng độ đường huyết không ngừng tăng cao, thì lượng hấp thu đường gluco trở lại của tiểu quản thận cũng tăng theo, khi nồng độ đường gluco trong máu vượt quá một giá trị nhất định thì năng lực hấp thu lại của tiểu quản thận bị bão hòa, không thể hấp thu được những lượng đường quá nhiều xuất hiện dường trong nước tiểu. Khi đó lượng đường gluco bị hấp thu lại trong dịch lọt qua màng lọc được gọi là lượng đường gluco hấp thu lại lớn nhất của tiểu quản thận. Lấy lượng đường gluco lọt qua tiểu cầu thận trong một đơn vị thòi gian, trừ đi lượng đường gluco xuất hiện trong nước tiểu trong khoảng thời gian đó, sẽ tính ra được giá trị hấp thu lại lớn nhất.

Đo định lượng bài tiết axít amonic nhiều nhất của tiểu quản thận: sau khi tiêm axít amọnic vào cơ thể, chưa phân giải, sẽ có khoảng 20% giữ nguyên hình lọt qua tiểu cầu thận, 80% sẽ giữ nguyên hình khi bị tiểu quản thận đầu gần bài tiết, khi mức axít amonic trong huyết tương tăng cao thì lượng bị bài tiết cũng tăng theo. Khi nồng độ trong huyết tương tăng tới một giá trị nhất định (khoảng 6mg/ml) thì lượng axít amonic bị tiểu quản thận bài tiết đạt tới giá trị lớn nhất, tức là dù nồng độ trong huyết tương tăng thêm thì lượng bài tiết vào nước tiểu cũng không tăng nữa. Lượng bài xuất khi đó là lượng axít amonic bài tiết lốn nhất. Nếu dùng lượng bài tiết lớn nhất trừ đi lượng lọt qua tiểu cầu thận sẽ được lượng bài tiết axít amonic lớn nhất của tiểu quản thận. Giá trị này được dùng để đánh giá số lượng và chất lượng các tiểu quản thận, để biết chức năng bài tiết chủ động của tiểu quản thận đầu gần.

Trả lời

Top